Mua đất viết giấy tay khi tranh chấp có được coi là vô hiệu?
Mua đất viết giấy tay khi tranh chấp có được coi là vô hiệu?
Mua đất viết giấy tay khi tranh chấp có được coi là vô hiệu?
Mua đất viết giấy tay khi tranh chấp có được coi là vô hiệu?Tranh chấp quyền sử dụng đất khi nội dung công chứng khôn rõ ràng ? Giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất ? Tư vấn về mua bán đất đai khi hợp đồng vô hiệu ? Mua bán đất bằng giấy tay sẽ bị tòa án tuyên vô hiệu ? và các vấn đề pháp lý khác liên quan sẽ được luật sư tư vấn cụ thể:1. Mua đất bằng giấy viết tay khi tranh chấp có vô hiệu không?Chào luật sư! Xin tư vấn về tranh chấp diện tích đất trên giấy viết tay và thực tế. Chào luật sư: Ngày 10 tháng 11 năm 2015, tôi có thỏa thuận bán cho bên B chiều rộng 15m và chiều dài 30m đất. Với giá 10 triệu đồng trên 1m chiều rộng. Và bên B đã đồng ý. Nhưng khi làm giấy viết tay bên B viết tôi thỏa thuận bán 500m2 với giá 120 triệu đồng.
Mua đất viết giấy tay khi tranh chấp có được coi là vô hiệu?Tranh chấp quyền sử dụng đất khi nội dung công chứng khôn rõ ràng ? Giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất ? Tư vấn về mua bán đất đai khi hợp đồng vô hiệu ? Mua bán đất bằng giấy tay sẽ bị tòa án tuyên vô hiệu ? và các vấn đề pháp lý khác liên quan sẽ được luật sư tư vấn cụ thể:1. Mua đất bằng giấy viết tay khi tranh chấp có vô hiệu không?Chào luật sư! Xin tư vấn về tranh chấp diện tích đất trên giấy viết tay và thực tế. Chào luật sư: Ngày 10 tháng 11 năm 2015, tôi có thỏa thuận bán cho bên B chiều rộng 15m và chiều dài 30m đất. Với giá 10 triệu đồng trên 1m chiều rộng. Và bên B đã đồng ý. Nhưng khi làm giấy viết tay bên B viết tôi thỏa thuận bán 500m2 với giá 120 triệu đồng.Và bên B nói chỉ làm giấy viết tay vậy thôi. Khi làm giấy chuyển nhượng chỉ lấy 15m chiều rộng và 30m chiều dài. Tôi đã kí vào giấy viết tay đó. Và tôi đã nhận 100 triệu tiền cọc. Số tiền còn lại sẽ thanh toán sau khi làm xong thủ tục chuyển nhượng đất. Nhưng tôi không đồng ý bán 500m2 đất với giá 120 triệu. Và đến bây giờ bên B kêu địa chính vào đo đúng 500m2 để tách sổ. Tôi không đồng ý và 2 bên đã xảy ra tranh chấp. Nếu đem ra toà xử lý thì giấy viết tay này có hiệu lực pháp lý không? Và nếu bị hủy hợp đồng mua bán này thì tôi có phải trả lại tiền cho bên B không?Xin luật sư giải thích giúp tôi ạ.Trả lời:
Trong trường hợp của bạn nếu giấy viết tay chưa có công chứng/ chứng thực sẽ được coi là vô hiệu về mặt hình thức. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật có quy định nếu các bên đã thực 2/3 nghĩa vụ trong giao kết trong trường hợp của bạn là đã được nhận 2/3 giá trị thỏa thuận thì dù vô hiệu về mặt hình thức khi ra Tòa vẫn được tuyên là hợp đồng có hiệu lực. Do đó trong trường hợp này bạn có thể viện vào căn cứ do bị lừa dối vì ở đây bên B đã nói chỉ viết tay vậy làm bạn hiểu sai nội dung giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó.
Khi giao dịch được coi là vô hiệu thì sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên. Nghĩa là bạn sẽ không phải giao đất cho ông B và bên cạnh đó bạn phải hoàn trả những gì đã nhận từ ông B đó là 100 triệu tiền cọc mà ông B đã đưa.
1.1. Điều kiện để hợp đồng chuyển nhượng bất động sản có hiệu lực?
Về chủ thể, theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 các bên tham gia hợp đồng phải có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Với hợp đồng chuyển nhượng bất động sản thì điều kiện chủ thể còn phải thỏa mãn theo quy định tại Điều 188 Luật đất đai số 45/2013/QH13 theo đó
"1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
b) Đất không có tranh chấp;
c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
d) Trong thời hạn sử dụng đất.
2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này. ..."
Về hình thức hợp đồng, theo quy định của Luật đất đai 2013 tất cả các hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực(Khoản 3 Điều 167 Luật đất đai 2013)
Theo dữ kiện bạn cung cấp, nếu giấy viết tay giữa bạn và bên B nếu chưa được công chứng/chứng thực thì sẽ vô hiệu về mặt hình thức.
1.2. Hợp đồng vô hiệu? Hậu quả pháp lí của hợp đồng vô hiệu?
1.2.1. Hợp đồng vô hiệu?
Hợp đồng vô hiệu là những hợp đồng không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định nên không tồn tại theo quy định của pháp luật, không có hiệu lực pháp lí mặc dù hợp đồng đó được được xác lập, các bên có thể chưa thực hiện, đang thực hiện hay đã thực hiện xong quyền và nghĩa vụ như cam kết nhưng khi xác định là hợp đồng vô hiệu thì mọi cam kết đã, đang thực hiện đều không phải là các quyền và nghĩa vụ được pháp luật bảo vệ. Vậy hợp đồng vô hiệu là khi xác lập các bên đã có vi phạm ít nhất một trong các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định dẫn đến hậu quả pháp lí là không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự nào.
1.2.2. Những trường hợp vô hiệu theo quy định của pháp luật
- Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn
- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
- Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình
- Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
Trong trường hợp của bạn nếu giấy viết tay chưa có công chứng/ chứng thực sẽ được coi là vô hiệu về mặt hình thức. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật có quy định nếu các bên đã thực 2/3 nghĩa vụ trong giao kết trong trường hợp của bạn là đã được nhận 2/3 giá trị thỏa thuận thì dù vô hiệu về mặt hình thức khi ra Tòa vẫn được tuyên là hợp đồng có hiệu lực. Do đó trong trường hợp này bạn có thể viện vào căn cứ do bị lừa dối vì ở đây bên B đã nói chỉ viết tay vậy làm bạn hiểu sai nội dung giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó.
l1.2.3. Hậu quả pháp lí của hợp đồng vô hiệu
Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là:
- Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
- Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Trong trường hợp này khi giao dịch được coi là vô hiệu thì sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên. Nghĩa là bạn sẽ không phải giao đất cho ông B và bên cạnh đó bạn phải hoàn trả những gì đã nhận từ ông B đó là 100 triệu tiền cọc mà ông B đã đưa.
2. Mua bán đất bằng giấy tay sẽ bị tòa án tuyên vô hiệu?
Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Tôi mua đất với giá 500 triệu đồng và được viết giấy tay xác nhận nhưng không công chứng. Đã gần 2năm, người bán trốn tránh không giao đất hoặc trả lại tiền. Nếu tôi khởi kiện,Tòa án sẽ giải quyết thế nào?"Trả lời:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 167 Luật đất đai 2013 quy định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất.
3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:
a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;
b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;
c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;
d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã.
Việc anh mua đất nhưng chỉ viết giấy tay, không lập thành hợp đồng và không có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất nên giao dịch đó bị coi là vô hiệu, điều này khiến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu về mặt hình thức theo quy định tại Điều 129 BLDS 2015:
Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:
1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.
2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.
Trong trường hợp anh khởi kiện ra Tòa án và Tòa án tuyên giao dịch giữa anh và người chuyển nhượng quyền sử dụng đất là vô hiệu, người chuyển nhượng phải hoàn trả cho anh số tiền đã nhận. Ngoài ra, Tòa án sẽ xem xét lỗi của các bên để buộc bên có lỗi phải bồi thường thiệt hại cho bên kia. Theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao tại Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, thiệt hại còn bao gồm khoản tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất do các bên thoả thuận với giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm xét xử sơ thẩm hoặc các thiệt hại khác, nếu có.
Tòa án cấp quận, huyện là cơ quan có thẩm quyền xét xử tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án nơi bị đơn cư trú có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự do anh khởi kiện.
Trong trường hợp bị đơn không có nơi cư trú nhất định, anh có thể khởi kiện tại Tòa án nơi có mảnh đất chuyển nhượng (theo điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS). Về thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự. Tham khảo dịch vụ: Tư vấn mua bán, chuyển nhượng đất đai
3. Xử lý việc mua bán đất đai khi hợp đồng vô hiệu?
Kính chào luật sư, thưa luật sự hiện nay em đang có một vài vấn đề thắc mắc mong luật sư tư vấn sớm giúp em. Câu hỏi như sau: Cách đây khoảng 10 năm ba em có bán mẫu đất 7400m2 nhưng chỉ bán 6000 còn lại 1400m2 cho người mua mượn sử dụng. Sau một thời gian người đó lại bán cho người khác và phần đất thừa đó vẫn còn thuộc quyền sở hữu của ba em.Cách đây 2 năm ba em có goi người mua đất sau lại thương lượng là cho ba em xin 20 triệu vì họ sử dụng phần đất thừa đó đã lâu và họ đặt điều kiện là phải sang tên cho họ phần đất đó với số tiền mà ba em xin. Ba em đã nhận 10triệu và sau khi sang tên nhận phần còn lại. Nhưng họ không làm giấy sở hữu được nên ba em đã cho chị gái em phần đất đó. Bây giờ họ kiện ba em không chịu bán phần đất đó cho họ mà lại cho chị gái em. Vậy cho em hỏi: Bây giờ phần đất đó đã thuộc quyền sở hữu của chị gái em nếu họ mua chị gái em sẽ bán theo giá thị trường nhưng họ không chịu và đã kiện ra tòa. Như vậy ba em có phải bán cho họ với số tiền 20 triệu đó không. Trong khi đó các anh chị em trong nhà đã không ký tên cho ba em bán, mà ba em và họ chỉ ký giấy với nhau mà không có chính quyền địa phương làm chứng trong khi phần đất đó họ đã và đang sử dụng nhiều năm nay.Bây giờ họ kiện ra tòa vậy ba em có thể thắng kiện không?E xin cám ơn!
Trả lời:
Trong trường hợp của bạn nếu giấy viết tay chưa có công chứng/ chứng thực sẽ được coi là vô hiệu về mặt hình thức. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật có quy định nếu các bên đã thực 2/3 nghĩa vụ trong giao kết trong trường hợp của bạn là đã được nhận 2/3 giá trị thỏa thuận thì dù vô hiệu về mặt hình thức khi ra Tòa vẫn được tuyên là hợp đồng có hiệu lực. Do đó trong trường hợp này bạn có thể viện vào căn cứ do bị lừa dối vì ở đây bên B đã nói chỉ viết tay vậy làm bạn hiểu sai nội dung giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó.
Khi giao dịch được coi là vô hiệu thì sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên. Nghĩa là bạn sẽ không phải giao đất cho ông B và bên cạnh đó bạn phải hoàn trả những gì đã nhận từ ông B đó là 100 triệu tiền cọc mà ông B đã đưa.
1.1. Điều kiện để hợp đồng chuyển nhượng bất động sản có hiệu lực?
Về chủ thể, theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 các bên tham gia hợp đồng phải có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Với hợp đồng chuyển nhượng bất động sản thì điều kiện chủ thể còn phải thỏa mãn theo quy định tại Điều 188 Luật đất đai số 45/2013/QH13 theo đó
"1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
b) Đất không có tranh chấp;
c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
d) Trong thời hạn sử dụng đất.
2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này. ..."
Về hình thức hợp đồng, theo quy định của Luật đất đai 2013 tất cả các hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực(Khoản 3 Điều 167 Luật đất đai 2013)
Theo dữ kiện bạn cung cấp, nếu giấy viết tay giữa bạn và bên B nếu chưa được công chứng/chứng thực thì sẽ vô hiệu về mặt hình thức.
1.2. Hợp đồng vô hiệu? Hậu quả pháp lí của hợp đồng vô hiệu?
1.2.1. Hợp đồng vô hiệu?
Hợp đồng vô hiệu là những hợp đồng không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định nên không tồn tại theo quy định của pháp luật, không có hiệu lực pháp lí mặc dù hợp đồng đó được được xác lập, các bên có thể chưa thực hiện, đang thực hiện hay đã thực hiện xong quyền và nghĩa vụ như cam kết nhưng khi xác định là hợp đồng vô hiệu thì mọi cam kết đã, đang thực hiện đều không phải là các quyền và nghĩa vụ được pháp luật bảo vệ. Vậy hợp đồng vô hiệu là khi xác lập các bên đã có vi phạm ít nhất một trong các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định dẫn đến hậu quả pháp lí là không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự nào.
1.2.2. Những trường hợp vô hiệu theo quy định của pháp luật
- Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn
- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
- Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình
- Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
l1.2.3. Hậu quả pháp lí của hợp đồng vô hiệu
Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là:
- Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
- Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Trong trường hợp này khi giao dịch được coi là vô hiệu thì sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên. Nghĩa là bạn sẽ không phải giao đất cho ông B và bên cạnh đó bạn phải hoàn trả những gì đã nhận từ ông B đó là 100 triệu tiền cọc mà ông B đã đưa.
2. Mua bán đất bằng giấy tay sẽ bị tòa án tuyên vô hiệu?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 167 Luật đất đai 2013 quy định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất.
3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:
a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;
b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;
c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;
d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã.
Việc anh mua đất nhưng chỉ viết giấy tay, không lập thành hợp đồng và không có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất nên giao dịch đó bị coi là vô hiệu, điều này khiến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu về mặt hình thức theo quy định tại Điều 129 BLDS 2015:
Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:
1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.
2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.
Trong trường hợp anh khởi kiện ra Tòa án và Tòa án tuyên giao dịch giữa anh và người chuyển nhượng quyền sử dụng đất là vô hiệu, người chuyển nhượng phải hoàn trả cho anh số tiền đã nhận. Ngoài ra, Tòa án sẽ xem xét lỗi của các bên để buộc bên có lỗi phải bồi thường thiệt hại cho bên kia. Theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao tại Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, thiệt hại còn bao gồm khoản tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất do các bên thoả thuận với giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm xét xử sơ thẩm hoặc các thiệt hại khác, nếu có.
Tòa án cấp quận, huyện là cơ quan có thẩm quyền xét xử tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án nơi bị đơn cư trú có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự do anh khởi kiện.
Trong trường hợp bị đơn không có nơi cư trú nhất định, anh có thể khởi kiện tại Tòa án nơi có mảnh đất chuyển nhượng (theo điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS). Về thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự. Tham khảo dịch vụ: Tư vấn mua bán, chuyển nhượng đất đai
